THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI CHUYỂN ĐỔI KHÁNG SINH ĐƯỜNG TIÊM SANG UỐNG TRƯỚC VÀ SAU HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CỦA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG KHÁNG SINH TẠI TRUNG TÂM QUỐC TẾ - BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
##plugins.themes.vojs.article.main##
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng và các yếu tố liên quan đến chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống trước và sau hoạt động can thiệp của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại Trung tâm Quốc tế - Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2021-2024.
Phương pháp: Nghiên cứu thuần tập hồi cứu và tiến cứu kết hợp khảo sát cắt ngang bác sĩ. Các chỉ số đánh giá gồm tỷ lệ chuyển đổi kháng sinh, tỷ lệ chuyển đổi hợp lý, thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm bị kéo dài và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi kháng sinh.
Kết quả: Trong giai đoạn hồi cứu năm 2021, có 88,1% người bệnh đủ điều kiện chuyển đổi kháng sinh nhưng không có trường hợp nào được thực hiện chuyển đổi. Trong giai đoạn tiến cứu từ 2022-2024, 94,5% người bệnh được chuyển đổi sang kháng sinh đường uống, trong đó 87,5% trường hợp được đánh giá là chuyển đổi hợp lý. Thời gian sử dụng kháng sinh đường tiêm bị kéo dài giảm từ 2,77 xuống 0,21 ngày. Các rào cản phổ biến đối với hoạt động chuyển đổi kháng sinh bao gồm sự tuân thủ điều trị của người bệnh và người nhà người bệnh, nguyện vọng tiếp tục sử dụng kháng sinh đường tiêm và diễn biến khó tiên lượng ở một số trường hợp nhiễm khuẩn trên trẻ nhỏ.
Kết luận: Tỷ lệ chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống đã cải thiện rõ rệt sau hoạt động can thiệp của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh. Tuy nhiên, hoạt động chuyển đổi kháng sinh vẫn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến người bệnh, người nhà người bệnh và nhận thức của bác sĩ. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu thực tiễn cho việc triển khai hoạt động chuyển đổi kháng sinh trong bệnh viện nhi.
##plugins.themes.vojs.article.details##
Từ khóa
chuyển đổi kháng sinh, quản lý sử dụng kháng sinh, kháng sinh đường tĩnh mạch, kháng sinh đường uống, Bệnh viện Nhi Trung ương
Tài liệu tham khảo
2. Cunha BA. Oral versus IV treatment for catheter-related bloodstream infections. Emerg Infect Dis 2007;13(11):1800-1801. [https://doi.org/10.3201/eid1311.070729](https://doi.org/10.3201/eid1311.070729)
3. File TM Jr, Segreti J, Dunbar L et al. A multicenter, randomized study comparing the efficacy and safety of intravenous and/or oral levofloxacin versus ceftriaxone and/or cefuroxime axetil in treatment of adults with community-acquired pneumonia. Antimicrob Agents Chemother 1997;41(9):1965-1972. [https://doi.org/10.1128/AAC.41.9.1965](https://doi.org/10.1128/AAC.41.9.1965)
4. Broom J, Broom A, Adams K, Plage S. What prevents the intravenous to oral antibiotic switch? A qualitative study of hospital doctors’ accounts of what influences their clinical practice. J Antimicrob Chemother 2016;71(8):2295-2299. [https://doi.org/10.1093/jac/dkw129](https://doi.org/10.1093/jac/dkw129)
5. Engel MF, Postma DF, Hulscher ME et al. Barriers to an early switch from intravenous to oral antibiotic therapy in hospitalised patients with CAP. Eur Respir J 2013;41(1):123-130. [https://doi.org/10.1183/09031936.00029412](https://doi.org/10.1183/09031936.00029412)
6. Lee SL, Azmi S, Wong PS. Clinicians’ knowledge, beliefs and acceptance of intravenous-to-oral antibiotic switching, Hospital Pulau Pinang. Med J Malaysia 2012;67(2):190-198.
7. Nguyễn Nhật Thiên Tú, Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Thanh Hải và cộng sự. Khảo sát tình hình chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường uống tại Bệnh viện Thống Nhất. VMJ 2022;518(2):23-27. [https://doi.org/10.51298/vmj.v518i2.3409](https://doi.org/10.51298/vmj.v518i2.3409)
8. Hà Nguyễn Y Khuê, Huỳnh Thị Hoài Thu, Trần Hoàng Tiên và cộng sự. Đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh 2019;Phụ bản tập 23(2):170-177.
9. Fischer MA, Solomon DH, Teich JM, Avorn J. Conversion from intravenous to oral medications: assessment of a computerized intervention for hospitalized patients. Arch Intern Med 2003;163(21):2585-2589. [https://doi.org/10.1001/archinte.163.21.2585](https://doi.org/10.1001/archinte.163.21.2585)