GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY DỊCH KHÍ QUẢN QUA ĐƯỜNG MŨI TRONG CHẨN ĐOÁN CĂN NGUYÊN VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP - BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
##plugins.themes.vojs.article.main##
Tóm tắt
Mục tiêu: Viêm phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, việc xác định chính xác căn nguyên vi khuẩn và virus gây bệnh trở nên rất quan trọng trong thực tiễn lâm sàng. Phương pháp lấy dịch hút khí quản qua đường mũi (NTA) là một trong những phương pháp lấy dịch đường hô hấp dưới có giá trị cao trong chẩn đoán vi sinh, tế bào học. Tuy nhiên, để đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong việc phát hiện căn nguyên vi khuẩn gây bệnh cần được so sánh với tiêu chuẩn vàng là dịch rửa phế quản (BAL). Nghiên cứu này của chúng tôi nhằm so sánh kết quả xác định căn nguyên gây viêm phổi bằng phương pháp NTA và BAL ở trẻ em được chẩn đoán viêm phổi tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 68 bệnh nhân từ 6 tháng-5 tuổi mắc viêm phổi và có chỉ định nội soi phế quản lấy dịch rửa phế quản điều trị tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/05/2025 đến 31/10/2025.
Kết quả: Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính là 13,2%, trong đó tỷ lệ cấy dương tính của bệnh phẩm dịch rửa phế quản là 8,8 %. So sánh kết quả cấy vi khuẩn giữa bệnh phẩm NTA và BAL cho thấy độ tương đồng là 85,3%, NTA có độ nhạy thấp (16,7%) và độ đặc hiệu cao (92%), giá trị dự báo dương tính (PPV) thấp (16,7%), giá trị dự báo âm tính (NPV) cao (93,4%) cho thấy khi NTA âm tính, khả năng không có vi khuẩn trong BAL là rất lớn. Tính an toàn của NTA: không có sự khác biệt về SpO2 trước và sau cấy NTA (p > 0,05), giá trị trung vị nhịp thở trước cấy NTA là 32 (20 - 60) và sau là 40 (22 - 65) (p < 0,05), giá trị trung bình nhịp tim trước cấy NTA là 119,4 ± 16,7 và sau là 131 ± 16,7 (p < 0,05) và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng.
Kết luận: Độ tương đồng về kết quả nuôi cấy vi khuẩn của NTA và BAL là rất cao tới 85,3%. So với BAL, NTA trong nghiên cứu này có độ nhạy thấp (16,7%) và độ đặc hiệu cao (92%), giá trị dự báo dương tính (PPV) thấp (16,7%) cho thấy khi NTA dương tính, khả năng phản ánh đúng vi khuẩn đường hô hấp dưới còn hạn chế. Nghiên cứu chỉ ra rằng NTA so với BAL (được coi là tiêu chuẩn vàng) không hữu ích về mặt lâm sàng trong việc đánh giá các kết quả dương tính về căn nguyên vi khuẩn cụ thể ở đường hô hấp dưới. Tuy nhiên, việc sử dụng NTA trong lâm sàng nói chung vẫn rất quan trọng vì các kết quả âm tính vẫn có giá trị giúp loại trừ khả năng nhiễm trùng đường hô hấp dưới và NTA được đánh giá là kỹ thuật an toàn, ít xâm lấn hơn BAL khi áp dụng cho trẻ nhỏ.
##plugins.themes.vojs.article.details##
Từ khóa
NTA, BAL, viêm phổi, độ tương đồng, độ nhạy, độ đặc hiệu, tính an toàn
Tài liệu tham khảo
2. Yun KW. Community-acquired pneumonia in children: updated perspectives on its etiology, diagnosis, and treatment. Clin Exp Pediatr 2024;67(2):80-89. https://doi. org/10.3345/cep.2022.01452
3. Nair H, Simões EA, Rudan I et al. Severe Acute Lower Respiratory Infections Working Group. Global and regional burden of hospital admissions for severe acute lower respiratory infections in young children in 2010: a systematic analysis. Lancet 2013;381(9875):1380 - 1390. https://doi. org/10.1016/s0140-6736(12)61901-1
4. Rudan I, Boschi-Pinto C, Biloglav Z et al. Epidemiology and etiology of childhood pneumonia. Bull World Health Organ 2008;86(5):408-416. https://doi.org/10.2471/ blt.07.048769
5. Greenough A (2012), Long term respiratory outcomes of very premature birth (<32 weeks). Semin Fetal Neonatal Med 2012;17(2):73-76. https://doi.org/10.1016/j. siny.2012.01.009
6. Andersen LØ, Olesen HV, Spannow AH et al. Validation of nasal tracheal aspiration in children with lung disease. BMC Pulm Med 2022;17;22(1):198. https://doi.org/10.1186/ s12890-022-01992-2
7. Zhang T, Black S, Hao C et al. The blind nasotracheal aspiration method is not a useful tool for pathogen detection of pneumonia in children. PLoS One 2010;5(12):e15885. https://doi.org/10.1371/ journal.pone.0015885
8. Hồ Thiên Hương, Trần Anh Tuấn. Hiệu quản của phun hít khí dung nước muối ưu trương trong dịch hút khí quản ở bệnh nhi viêm phổi. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh 2016;20(4):119 - 124.