Tạp chí Nhi khoa https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk <div><strong>Tạp chí Nhi khoa Việt Nam</strong> là tạp chí chính thức của Hội Nhi khoa Việt Nam nhằm giới thiệu, cập nhật kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em, xuất bản 4 số/năm. Tạp chí Nhi khoa tiếp nối các số Nhi khoa trước đây. Từ số 1/2008 thay đổi hình thức trình bày, giấy phép xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông số 1752/GP-BTTTT ngày 24-11-2008, mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 - 3860.</div> Hội Nhi khoa Việt Nam vi-VN Tạp chí Nhi khoa 1859-3860 TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG DO HAEMOPHILUS INFLUENZAE Ở TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP - BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG (2024-2025) https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/482 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét tính kháng kháng sinh và kết quả điều trị viêm phổi cộng đồng do Haemophilus influenza (H. influenza) ở trẻ em.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/09/2024 đến 31/08/2025 trên 380 trẻ 1 tháng-5 tuổi viêm phổi cộng đồng, có nuôi cấy dịch tỵ hầu hoặc dịch khí quản qua đường mũi dương tính với H. influenza.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ tiết β-lactamase 67,1% (255/380). Tỷ lệ kháng Amoxicillin 94,5% và Ampicillin 93,9%; kháng amoxicillin/clavulanate 66,6%. Tỷ lệ kháng với Cephalosporin thế hệ 2 đường uống cao (Cefuroxime 80,5%; Cefaclor 86,1%), trong khi Cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm còn nhạy cảm rất cao (Ceftriaxone kháng 0,5%; Cefotaxime kháng 0,8%). Trước nhập viện, 42,6% trẻ đã dùng kháng sinh. Kháng sinh chỉ định điều trị nội trú ban đầu: cephalosporin thế hệ 3 đơn độc 69,4%; phối hợp Cephalosporin + Macrolide 15,3%. Kết quả điều trị: 95,6% khỏi/đỡ ra viện; 4,4% chuyển tuyến dưới; không tử vong. Số ngày điều trị trung bình 8,2±3,5; thời gian thở oxy trung bình 3,6±2,7 ngày và nhóm &lt;12 tháng thở oxy dài hơn (p=0,005).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> H. influenzae có tỷ lệ tiết β-lactamase cao và kháng rất cao với Penicillin; cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm còn hiệu lực tốt. Kết quả điều trị phần lớn tiến triển tốt, không có bệnh nhân tử vong.</p> Nga Phạm Thu Ngọc Bùi Bích Hanh Lê Thị Hồng Nga Nguyễn Thị Thu Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY DỊCH KHÍ QUẢN QUA ĐƯỜNG MŨI TRONG CHẨN ĐOÁN CĂN NGUYÊN VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP - BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/483 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Viêm phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, việc xác định chính xác căn nguyên vi khuẩn và virus gây bệnh trở nên rất quan trọng trong thực tiễn lâm sàng. Phương pháp lấy dịch hút khí quản qua đường mũi (NTA) là một trong những phương pháp lấy dịch đường hô hấp dưới có giá trị cao trong chẩn đoán vi sinh, tế bào học. Tuy nhiên, để đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong việc phát hiện căn nguyên vi khuẩn gây bệnh cần được so sánh với tiêu chuẩn vàng là dịch rửa phế quản (BAL). Nghiên cứu này của chúng tôi nhằm so sánh kết quả xác định căn nguyên gây viêm phổi bằng phương pháp NTA và BAL ở trẻ em được chẩn đoán viêm phổi tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu 68 bệnh nhân từ 6 tháng-5 tuổi mắc viêm phổi và có chỉ định nội soi phế quản lấy dịch rửa phế quản điều trị tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/05/2025 đến 31/10/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính là 13,2%, trong đó tỷ lệ cấy dương tính của bệnh phẩm dịch rửa phế quản là 8,8 %. So sánh kết quả cấy vi khuẩn giữa bệnh phẩm NTA và BAL cho thấy độ tương đồng là 85,3%, NTA có độ nhạy thấp (16,7%) và độ đặc hiệu cao (92%), giá trị dự báo dương tính (PPV) thấp (16,7%), giá trị dự báo âm tính (NPV) cao (93,4%) cho thấy khi NTA âm tính, khả năng không có vi khuẩn trong BAL là rất lớn. Tính an toàn của NTA: không có sự khác biệt về SpO2 trước và sau cấy NTA (p &gt; 0,05), giá trị trung vị nhịp thở trước cấy NTA là 32 (20 - 60) và sau là 40 (22 - 65) (p &lt; 0,05), giá trị trung bình nhịp tim trước cấy NTA là 119,4 ± 16,7 và sau là 131 ± 16,7 (p &lt; 0,05) và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Độ tương đồng về kết quả nuôi cấy vi khuẩn của NTA và BAL là rất cao tới 85,3%. So với BAL, NTA trong nghiên cứu này có độ nhạy thấp (16,7%) và độ đặc hiệu cao (92%), giá trị dự báo dương tính (PPV) thấp (16,7%) cho thấy khi NTA dương tính, khả năng phản ánh đúng vi khuẩn đường hô hấp dưới còn hạn chế. Nghiên cứu chỉ ra rằng NTA so với BAL (được coi là tiêu chuẩn vàng) không hữu ích về mặt lâm sàng trong việc đánh giá các kết quả dương tính về căn nguyên vi khuẩn cụ thể ở đường hô hấp dưới. Tuy nhiên, việc sử dụng NTA trong lâm sàng nói chung vẫn rất quan trọng vì các kết quả âm tính vẫn có giá trị giúp loại trừ khả năng nhiễm trùng đường hô hấp dưới và NTA được đánh giá là kỹ thuật an toàn, ít xâm lấn hơn BAL khi áp dụng cho trẻ nhỏ.</p> Hanh Lê Thị Hồng Nga Trương Thị Việt Ngọc Hoàng Thị Bích Hùng Nguyễn Phi Linh Mai Trần Hạnh Nhã Phan Văn Lý Bùi Minh Loan Ngô Thị Nga Nguyễn Thị Thu Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TÂM TRÍ ĐÀ NẴNG https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/484 <p>Viêm phổi cộng đồng là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong ở trẻ em, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Tình trạng lạm dụng kháng sinh và kháng thuốc hiện nay ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Trí Đà Nẵng.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 182 trẻ mắc viêm phổi cộng đồng điều trị nội trú ≥ 3 ngày từ tháng 3 đến 9 năm 2023.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi 1–5 tuổi chiếm 63,2%; 55,5% là nam. Các triệu chứng phổ biến: ho (100%), sốt (71,4%), thở nhanh (57,7%), khò khè (50,5%). CRP tăng ở 83,5%, bạch cầu tăng 42,9%. Tổn thương phổi trên X-quang gặp ở 93,4%, chủ yếu dạng lan tỏa và thùy. Trẻ dùng kháng sinh trước nhập viện chiếm 26,9%. Phác đồ thường dùng gồm Cephalosporin thế hệ 3 (43,6%) và phối hợp beta-lactam với Macrolid (36,9%). Tỷ lệ khỏi bệnh đạt 98,9%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Viêm phổi cộng đồng ở trẻ có biểu hiện đa dạng. Điều trị theo kinh nghiệm vẫn đạt hiệu quả cao nếu lựa chọn kháng sinh hợp lý và theo dõi sát lâm sàng.</p> Thủy Hoàng Nguyễn Thanh Hương Phạm Diễm Hương Nguyên Nguyễn Trọng Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM PHỔI NẶNG Ở TRẺ EM ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/486 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi và xác định một số yếu tố liên quan đến viêm phổi nặng ở trẻ em điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 1.200 trẻ dưới 16 tuổi chẩn đoán viêm phổi (6/2024 - 6/2025). Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án bao gồm đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm máu và hình ảnh X-quang ngực.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Viêm phổi thường gặp ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi (76,6%), các triệu chứng thường gặp nhất là ho (98,7%), sốt (65,2%) và ran ở phổi (96,1%). Tỷ lệ viêm phổi nặng có xu hướng giảm dần theo tuổi. Phân tích hồi quy đa biến logistic xác định được ba yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến viêm phổi nặng bao gồm tuổi &lt; 1 tuổi, nhẹ cân khi sinh và thiếu máu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu này góp phần cung cấp bằng chứng thực tiễn trong sàng lọc, tiên lượng và quản lý viêm phổi nặng ở trẻ em tại Hà Nội.</p> Dung Phan Thị Kim Nhung Nguyễn Thị Hà Phùng Thị Việt Bá Tống Hoàng Huyền Lê Thị Dung Lê Thị Thùy Huyền Đinh Khánh Hoàng Chu Kim Linh Đinh Trúc Mai Nguyễn Thị Phương Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA VIÊM PHỔI DO CÚM A Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/488 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi do cúm A ở trẻ em tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2024-2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 93 bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán viêm phổi và có test nhanh cúm A dương tính, điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 9/2024 đến tháng 8/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi &lt; 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (38,7%). Triệu chứng lâm sàng phổ biến là ho (100%), sốt (95,7%) và chảy mũi (73,1%). Tỷ lệ viêm phổi nặng chiếm 43,1%. Trong phân tích đơn biến, các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của bệnh bao gồm: tuổi &lt; 24 tháng (p &lt; 0,01), có bệnh mạn tính kết hợp (OR = 4,11), phát hiện vi khuẩn ở mẫu dịch tỵ hầu (OR = 2,86), thiếu máu (OR = 3,53), CRP ≥ 6 mg/L (OR = 5,89) và sử dụng Oseltamivir sau 48 giờ (OR = 7,35).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Viêm phổi do cúm A ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn gặp chủ yếu ở nhóm trẻ nhỏ. Trong phân tích đơn biến, tuổi dưới 24 tháng, bệnh mạn tính kết hợp, thiếu máu, CRP ≥ 6 mg/L, phát hiện vi khuẩn ở mẫu dịch tỵ hầu và sử dụng Oseltamivir sau 48 giờ có liên quan đến mức độ nặng của bệnh. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa gợi ý trong nhận diện sớm nhóm trẻ nguy cơ cao trong thực hành lâm sàng; tuy nhiên, cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và phân tích đa biến để xác định các yếu tố liên quan độc lập.</p> Khiêm Nguyễn Văn Sang Nghiêm Thị Mai Giang Đỗ Thị Hương Thảo Nguyễn Thị Thu Ánh Nguyễn Ngọc Nam Trần Văn Huyền Nguyễn Thương Thu Bùi Thị Hương Ly Phạm Hà Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 DỊ ỨNG THỨC ĂN QUA TRUNG GIAN IGE TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1: VAI TRÒ CỦA NGHIỆM PHÁP THỬ THÁCH ĐƯỜNG MIỆNG https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/489 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Dị ứng thức ăn (DƯTĂ) qua trung gian IgE là vấn đề ngày càng được quan tâm trong nhi khoa. Nghiệm pháp thử thách đường miệng với thức ăn (OFC) là tiêu chuẩn vàng để xác định chẩn đoán và đánh giá dung nạp.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> nghiên cứu hồi cứu trên 26 trẻ nghi ngờ hoặc đã chẩn đoán DƯTĂ tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ 1/2016–1/2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu cho thấy tuổi trung vị là 10,5 tháng và 84,6% trẻ ≤24 tháng. Thức ăn phổ biến: sữa bò, trứng và tôm. Tỷ lệ OFC dương tính là 19,2% (16,7% nhóm chẩn đoán và 21,4% ở nhóm đánh giá dung nạp). Tất cả trẻ OFC dương tính đều biểu hiện mày đay, một trẻ kèm chảy nước mũi và không ghi nhận trường hợp nào sốc phản vệ. Chỉ một trẻ cần dùng kháng histamin. Trẻ OFC âm tính dung nạp tốt và trở lại chế độ ăn bình thường.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả cho thấy OFC là công cụ quan trọng giúp khẳng định chẩn đoán, đánh giá dung nạp và ngăn ngừa ăn kiêng không cần thiết.</p> Oanh Nguyễn Thị Kim Ngọc Nguyễn Thị Tuấn Trần Anh Tuấn Nguyễn Anh Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 KẾT QUẢ CHĂM SÓC BỆNH NHI SAU PHẪU THUẬT TIM MỞ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2024 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/490 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả kết quả chăm sóc và một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc bệnh nhi sau phẫu thuật tim mở tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> mô tả tiến cứu có phân tích ở 208 bệnh nhi sau phẫu thuật tim mở trong thời gian từtháng 02 đến tháng 8 năm 2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 208 bệnh nhi sau phẫu thuật tim mở: Tuổi trung vị là 6 tháng tuổi, cân nặng trung vị là 6,2 kg, có 30,3% có suy dinh dưỡng, tình trạng nhịp tim nhanh, huyết áp giảm thường biểu hiện trong khoảng 6-12 giờ đầu, biến chứng thường gặp nhất là chảy máu 9,6%. Kết quả chăm sóc tốt: 194/208 (93,3%) vớithở máy trên 138,5 giờ và dẫn lưu màng phổi trên 3,5 ngày là yếu tố liên quan độc lập với OR và 95%CI tương ứng là 13,20 (1,28 - 136,50) và 6,72 (1,08 - 41,70).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả chăm sóc bệnh nhi sau phẫu thuật tim mở tại Bệnh viện Nhi Trung ương đạt kết quả rất tốt, các hoạt động chăm sóc tốt đạt 93,3% tuy nhiên cần tiếp tục áp dụng và thực hiện tốt quy trình chăm sóc và xây dựng các giải pháp phù hợp trong chăm sóc nhóm bệnh nhi lưu dẫn lưu dài ngày và thở máy kéo dài để cải thiện kết quả chăm sóc điều dưỡng.</p> Hoàn Tạ Đình Thức Đặng Văn Tùng Cao Việt Toàn Dương Khánh Tâm Nguyễn Thị Thanh Anh Nguyễn Thị Hải Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VỀ BỆNH TIÊU CHẢY CẤP TẠI KHOA TIÊU HÓA, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/491 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người chăm sóc (NCS) trẻ nhỏ trong phòng ngừa và xử trí tiêu chảy cấp (TCC), đồng thời phân tích các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: Thiết </strong>kế cắt ngang có phân tích, thực hiện trên 186 NCS tại khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nhi đồng 1, từ 11/2024 đến 05/2025. Dữ liệu thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi chuẩn hóa.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ NCS có kiến thức đạt yêu cầu là 64,5%, NCS có thái độ tích cực là 66,7%, và thực hành đạt là 44,6%. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành bao gồm trình độ học vấn trên trung học, thời gian nằm viện trên 7 ngày, biết đến kẽm và vắc xin Rota và tiền sử trẻ từng nhập viện vì tiêu chảy và nghề nghiệp lao động phổ thông. NCS tiếp cận thông tin về TCC phổ biến nhất là từ nhân viên y tế (80,6%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức, thái độ và thực hành của NCS còn hạn chế, đặc biệt về thực hành. Cần tăng cường truyền thông - giáo dục sức khỏe trong thời gian nằm viện, ưu tiên nhóm có con chưa từng mắc TCC và đa dạng hóa các kênh truyền thông.</p> Vy Nguyễn Gia Hoàng Phúc Hoàng Lê Tuấn Nguyễn Anh Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1 THỦNG TÁ TRÀNG Ở TRẺ EM - BÁO CÁO CA LÂM SÀNG https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/492 <p>Thủng tá tràng là một cấp cứu ngoại khoa hiếm gặp ở trẻ em, các triệu chứng thường không điển hình do đó dễ bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn. Nếu không được xử trí kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp thủng tá tràng do loét gây viêm phúc mạc toàn thể ở trẻ em với các triệu chứng lâm sàng không điển hình. Trẻ nam 9 tuổi nhập viện trong tình trạng cấp cứu do nôn và đau bụng. Siêu âm bụng ghi nhận có ít dịch tự do ổ bụng và nghi ngờ viêm ruột thừa. Chụp X-quang lồng ngực thường quy trước mổ tình cờ quan sát thấy liềm hơi dưới cơ hoành. Bệnh nhân được chỉ định mổ nội soi, phát hiện có lỗ thủng ở tá tràng do loét.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Thủng tá tràng do loét là một nguyên nhân gây nôn và đau bụng cấp tính hiếm gặp ở trẻ em, để chẩn đoán cần sự hỗ trợ của các phương pháp cận lâm sàng đặc hiệu.</p> Linh Nguyễn Thị Thùy Hiền Phan Thị Minh Ngô Duy Kiên Nguyễn Thị Giang Cao Thị Nữ Nguyễn Thị Tâm Nguyễn Thị An Phạm Nhật Copyright (c) 2026 2026-05-26 2026-05-26 19 1