https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/issue/feedTạp chí Nhi khoa2026-07-31T12:48:04+00:00Open Journal Systems<div><strong>Tạp chí Nhi khoa Việt Nam</strong> là tạp chí chính thức của Hội Nhi khoa Việt Nam nhằm giới thiệu, cập nhật kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em, xuất bản 4 số/năm. Tạp chí Nhi khoa tiếp nối các số Nhi khoa trước đây. Từ số 1/2008 thay đổi hình thức trình bày, giấy phép xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông số 1752/GP-BTTTT ngày 24-11-2008, mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 - 3860.</div>https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/506ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO CẤP Ở TRẺ EM: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ THEO HƯỚNG DẪN CỦA HIỆP HỘI TIM MẠCH HOA KỲ/HIỆP HỘI ĐỘT QUỴ HOA KỲ (AHA/ASA) NĂM 20262026-07-21T07:39:05+00:00Duy Lê Ngọcngocduy@nch.gov.vnLuyên Phan Ngọctapchinhikhoa@gmail.com<p>Đột quỵ não cấp ở trẻ em là tình trạng cấp cứu thần kinh tối khẩn cấp với nguy cơ tử vong và di chứng thần kinh nặng nề. Hướng dẫn của AHA/ASA năm 2026 đánh dấu bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên xây dựng khuyến cáo chuyên biệt cho trẻ em gồm ba nội dung chính: nhận diện sớm, chẩn đoán hình ảnh và điều trị tái tưới máu. Trong nhận diện ban đầu, các công cụ sàng lọc ở người lớn như FAST có độ nhạy hạn chế ở trẻ, trong khi PedNIHSS hữu ích trong nội viện nhưng chưa phổ biến ngoài cộng đồng. Hệ thống cấp cứu trước viện đóng vai trò quan trọng trong rút ngắn thời gian điều trị thông qua nhận diện sớm, thông báo trước và chuyển trẻ đến cơ sở phù hợp. MRI/MRA được ưu tiên nhờ khả năng xác định tổn thương và phân biệt giả đột quỵ, tuy nhiên CT/CTA vẫn cần thiết khi cần triển khai nhanh để tránh điều trị muộn. Cập nhật mở rộng chỉ định tái tưới máu, bao gồm cân nhắc tiêu sợi huyết trong 4,5 giờ đầu và can thiệp nội mạch ở các trường hợp phù hợp dựa trên đánh giá hình ảnh. Điều trị hỗ trợ tối ưu vẫn giữ vai trò nền tảng nhằm cải thiện kết cục thần kinh.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nhi khoahttps://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/511ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUỔI THAI VÀ MỨC ĐỘ SUY HÔ HẤP SƠ SINH Ở TRẺ SINH MỔ2026-07-21T09:20:27+00:00Thạch Nguyễn Hoànghthach90@gmail.comDũng Trần Hùngtapchinhikhoa@gmail.comThảo Trần Thịtapchinhikhoa@gmail.comKhánh Trần Huỳnh Kimtapchinhikhoa@gmail.comUyên Trần Phan Tútapchinhikhoa@gmail.comBình Nguyễn Thị tapchinhikhoa@gmail.comĐiến Mai Văntapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Tỷ lệ mổ lấy thai (MLT) gia tăng liên quan đến nguy cơ suy hô hấp (SHH) sơ sinh do ảnh hưởng đến hấp thu dịch phổi và sản xuất surfactant. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá mối liên quan giữa tuổi thai và biến cố hô hấp (HH) ở trẻ sinh mổ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 1.078 trẻ MLT tại Bệnh viện An Sinh. Phân tích nguy cơ HH của trẻ < 39 tuần so với trẻ ≥ 39 tuần.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ SHH là 4,1%, giảm dần theo tuổi thai (6,1% ở non muộn vs 2,2% ở ≥39 tuần). Trẻ non muộn có nguy cơ SHH (OR = 2,89) và nhập HSSS cao hơn (OR = 17,68). Trong nhóm mổ chủ động, tuổi thai < 39 tuần là yếu tố nguy cơ độc lập của SHH (non muộn: aOR = 6,49; đủ tháng sớm: aOR = 6,01). Nhu cầu hỗ trợ HH giảm rõ ở nhóm ≥39 tuần.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> MLT trước 39 tuần, đặc biệt khi chưa chuyển dạ, làm tăng nguy cơ SHH và nhập HSSS. Nên trì hoãn MLT đến ≥ 39 tuần để cải thiện kết cục HH sơ sinh.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/510KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH KAWASAKI Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN2026-07-21T08:14:08+00:00Phương Đặng Thị Hàtapchinhikhoa@gmail.comNam Nguyễn Văntapchinhikhoa@gmail.comHiếu Trần Ngọctapchinhikhoa@gmail.comVân Đặng Thị Hảihaivan@hmu.edu.vn<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nhận xét kết quả điều trị Immunoglobulin tĩnh mạch (IVIG) và diễn biến tổn thương động mạch vành (ĐMV) ở trẻ mắc bệnh Kawasaki tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An (2024–2026).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 53 trẻ được chẩn đoán bệnh Kawasaki điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 01/2024 đến tháng 03/2026.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>100% trẻ được truyền IVIG trong 10 ngày đầu. Thời điểm truyền trung bình là ngày 7,3 ± 0,9, không có trẻ nào gặp tác dụng phụ khi truyền IVIG. Đáp ứng IVIG lần đầu là 88,7% và 11,3% kháng IVIG. Tất cả trẻ kháng IVIG lần 1 đều đáp ứng với liều IVIG lần 2. Kháng IVIG liên quan có ý nghĩa với thể không điển hình (66,7% so với 21,3%; p = 0,036) và tổn thương ĐMV nặng hơn so với nhóm đáp ứng (giãn vừa 66,7% so với 4,3%; p = 0,001). Sau truyền, các chỉ số viêm giảm rõ rệt (số lượng bạch cầu, bạch cầu trung tính, máu lắng, CRP) có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tổn thương ĐMV trong giai đoạn cấp là 56,6% (giãn nhẹ 45,3%, giãn vừa 11,3%, không có phình giãn lớn) còn 11,3% có tổn thương (chủ yếu giãn nhẹ) ở tuần 6–8; 80,0% (24/30) tổn thương ĐMV ban đầu hồi phục hoàn toàn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Điều trị IVIG sớm trong 10 ngày đầu cho kết quả tốt. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kháng IVIG với thể không điển hình và tổn thương ĐMV nặng, tuy nhiên cần nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/512ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH Ở TRẺ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN CẤP TRUNG BÌNH TỪ 2 THÁNG ĐẾN 24 THÁNG DỰA TRÊN KẾT QUẢ PCR TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-07-21T09:39:39+00:00Nghĩa Lê Trọngtrongnghia91kg@gmail.comDiễm Phan Hữu Nguyệttapchinhikhoa@gmail.comVi Võ Lê Vitapchinhikhoa@gmail.comUyên Nguyễn Thị Nhãtapchinhikhoa@gmail.comQuí Lê Minhtapchinhikhoa@gmail.comTuấn Nguyễn Anhtapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ tác nhân vi sinh trong viêm tiểu phế quản trung bình qua kết quả PCR và đánh giá hiệu quả can thiệp ngưng kháng sinh dựa trên kết quả này.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 83 bệnh nhân nhi 2-24 tháng tuổi viêm tiểu phế quản trung bình tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 8/2024-3/2025. Tất cả bệnh nhân được lấy mẫu dịch hút khí quản (NTA) để thực hiện PCR xác định tác nhân siêu vi và vi trùng. Can thiệp ngưng kháng sinh được thực hiện ở nhóm PCR âm tính với vi trùng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> PCR xác định RSV chiếm 59,0%, Rhinovirus 22,9%, Parainfluenza virus 20,5%. Tỷ lệ đồng nhiễm vi trùng là 50,6% với <em>Streptococcus pneumoniae</em> chiếm 71,4%. Nhóm đồng nhiễm có tỷ lệ sốt cao hơn (64,3% vs 26,8%, p=0,001), CRP cao hơn (19,4 vs 6,3 mg/L, p<0,001), thâm nhiễm trên X-quang nhiều hơn (92,9% vs 26,8%, p<0,001) và thời gian nằm viện dài hơn (7,24 vs 5,80 ngày, p=0,001). Tỷ lệ sử dụng kháng sinh ban đầu là 91,6%. Can thiệp ngưng kháng sinh thành công ở 85% trường hợp (17/20).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Khuyến cáo sử dụng kháng sinh trong viêm tiểu phế quản khi CRP > 20mg/L, thâm nhiễm trên X-quang phổi.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nhi khoahttps://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/513NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI DO PHẾ CẦU Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI THÁI BÌNH NĂM 20252026-07-21T09:52:44+00:00Thuyết Lương Thịluongthuyetbmnytb@gmail.comAnh Nguyễn Ngọctapchinhikhoa@gmail.comQuỳnh Lê Thịtapchinhikhoa@gmail.comLinh Trịnh Khánhtapchinhikhoa@gmail.comAnh Trần Lantapchinhikhoa@gmail.comNhân Quách Ngọctapchinhikhoa@gmail.comHà Nguyễn Thị Thutapchinhikhoa@gmail.comSomsanok Vongsouvanhtapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu mối tương quan giữa một số yếu tố đến đáp ứng điều trị viêm phổi do phế cầu ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu có phân tích trên 153 bệnh nhân từ độ tuổi 2 tháng đến dưới 60 tháng tuổi điều trị viêm phổi do phế cầu, chia làm 2 nhóm tình trạng lúc ra viện là khỏi và đỡ, tại khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Thái Bình từ tháng 6/2025 đến tháng 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bệnh nhân mắc viêm phổi do phế cầu có kết quả điều trị khỏi chiếm 85%. Trẻ trong nhóm tuổi từ 12-<60 tháng tuổi có kết quả điều trị khỏi chiếm 88,2%. Trẻ VPPC có tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn so với trẻ VPPC mức độ nặng, với p < 0,05. Tiêm phòng phế cầu rút ngắn thời gian nằm viện của trẻ với p < 0,05. Trẻ được sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện chiếm 73,8% và có tỷ lệ khỏi bệnh thấp hơn trẻ không sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện, với p< 0,05.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Viêm phổi do phế cầu hay gặp ở lứa tuổi 12-<60 tháng, viêm phổi mức độ nặng làm kéo dài thời gian nằm viện, trong khi đó việc tiêm chủng phế cầu rút ngắn thời gian điều trị.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/514CĂN NGUYÊN VÀ BỆNH LÝ NỀN Ở TRẺ MẮC VIÊM PHỔI TÁI DIỄN ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG2026-07-21T10:19:05+00:00Vui Phạm Thị Lệtapchinhikhoa@gmail.comHanh Lê Thị Hồnglehonghanhbvnhi@yahoo.comNga Phạm Thutapchinhikhoa@gmail.comQuang Lê Đứctapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Mục</strong> <strong>tiêu:</strong> Mô tả căn nguyên vi sinh và bệnh lý nền ở trẻ mắc viêm phổi tái diễn điều trị tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương 2025-2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 260 trẻiêm phổi tái diễn tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/08/2025 đến 31/03/2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 260 trẻ tham gia nghiên cứu, 69,6% trường hợp phát hiện được ít nhất một căn nguyên vi sinh. Vi khuẩn là căn nguyên thường gặp nhất (40,8%), tiếp theo là virus (28,8%), chỉ có 1 trường hợp nhiễm <em>,</em> và 1 trường hợp nhiễm nấm Aspergillus. Trong nhóm vi khuẩn, các tác nhân thường gặp bao gồm<em> Haemophilus influenzae </em>(31,1%)<em>, Moraxella catarrhalis</em> (31,1%)<em> và Streptococcus pneumoniae </em>(17%),<em> </em>được xác định bằng phương pháp nuôi cấy dịch tiết đường hô hấp.<em> Mycoplasma pneumoniae </em>chiếm 6,6% và được phát hiện bằng kỹ thuật PCR. Trong nhóm virus, virus hợp bào hô hấp (RSV) chiếm tỷ lệ cao nhất (79,2%), tiếp theo là Adenovirus (15,6%), trong khi Cytomegalovirus (CMV) chỉ gặp với tỷ lệ thấp. Có 158 trẻ (60,8%) mắc ít nhất 1 bệnh lý nền và 21,9% trẻ mắc từ hai bệnh lý nền trở lên. Các bệnh lý nền thường gặp gồm bệnh hô hấp như bất thường đường thở (18,4%), loạn sản phế quản phổi (16,5%); bệnh tim mạch (27,8%); rối loạn miễn dịch (13,9%); bất thường thần kinh như bại não (12%), động kinh (8,2%).</p> <p><strong> Kết luận:</strong> Vi khuẩn cộng đồng là căn nguyên vi sinh hàng đầu ở trẻ viêm phổi tái diễn, trong đó thường gặp nhất là<em> H. influenzae, M. catarrhalis, S. pneumoniae, </em>chủ yếu được phát hiện bằng phương pháp nuôi cấy bệnh phẩm dịch hô hấp. Bên cạnh đó virus, đặc biệt là RSV cũng đóng vai trò quan trọng. Phần lớn trẻ mắc viêm phổi tái diễn có bệnh lý nền, chủ yếu là các bất thường liên quan tới hệ hô hấp và tim mạch. Do đó, việc đánh giá toàn diện và có hệ thống các cơ quan này cần được chú ý khi tiếp cận và quản lý trẻ viêm phổi tái diễn.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/515MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY HÔ HẤP TRÊN TRẺ NHIỄM TRÙNG HÔ HẤP DƯỚI CÓ NHIỄM RSV TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG2026-07-21T10:28:13+00:00Vi Đinh Thị Tườngtapchinhikhoa@gmail.comHanh Lê Thị Hồngtapchinhikhoa@gmail.comQuang Lê Đứctapchinhikhoa@gmail.comNga Nguyễn Thị Thutapchinhikhoa@gmail.comLinh Mai Trần Hạnhtapchinhikhoa@gmail.comNga Phạm Thuphamthunga@hmu.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy hô hấp ở trẻ nhiễm trùng hô hấp dưới có nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) tại Trung tâm hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2025-2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 695 trẻ từ 1 tháng đến dưới 24 tháng tuổi mắc nhiễm trùng hô hấp dưới và có kết quả test nhanh RSV dương tính, điều trị tại Trung tâm hô hấp, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 7/2025 đến tháng 5/2026. Các yếu tố liên quan đến tình trạng suy hô hấp được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Trẻ dưới 6 tháng tuổi chiếm 50,1%; tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1. Tỷ lệ trẻ đẻ non (< 37 tuần) và có cân nặng khi sinh thấp (< 2500 gram) lần lượt là 16,3% và 15,4%. Có 62,0% trẻ suy hô hấp và nhập viện chủ yếu vào mùa đông – xuân. Phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với suy hô hấp gồm: đẻ non < 37 tuần (aOR = 2,63;KTC 95%: 1,22–5,65), tuổi < 6 tháng (aOR = 2,55; KTC 95%: 1,83–3,55), phơi nhiễm khói thuốc lá (aOR = 1,67; KTC 95%: 1,10–2,53) và đồng nhiễm vi khuẩn (aOR = 0,71; KTC 95%: 0,50–0,99).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nhiễm trùng hô hấp dưới có nhiễm RSV thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng và gia tăng vào mùa đông – xuân. Đẻ non, tuổi dưới 6 tháng và phơi nhiễm khói thuốc lá là các yếu tố liên quan đến tăng nguy cơ suy hô hấp ở trẻ nhiễm RSV.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nhi khoahttps://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/516KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC Ở TRẺ EM LỌC MÀNG BỤNG TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG2026-07-21T10:43:47+00:00Liên Nguyễn Thị Thùythuylien.anfu@gmail.comThanh Trần Thịtapchinhikhoa@gmail.comHương Nguyễn Thutapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Viêm phúc mạc (VPM) là biến chứng nghiêm trọng ở trẻ lọc màng bụng (LMB), có thể dẫn đến thất bại điều trị, rút catheter và tử vong. Nghiên cứu mô tả căn nguyên vi sinh và kết quả điều trị VPM ở trẻ LMB tại Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trẻ dưới 16 tuổi LMB được chẩn đoán viêm phúc mạc theo ISPD 2022 từ 01/2024 đến 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Có 50 trẻ với 73 đợt viêm phúc mạc. Tuổi trung bình là 10,5 ± 3,8 tuổi, nam chiếm 42,0%. Tần suất VPM 0,39 đợt/bệnh nhân/năm. Triệu chứng thường gặp nhất là dịch thẩm phân đục (90,3%) và đau bụng (83,0%). Tỷ lệ cấy dịch dương tính đạt 75,3% với 49,1% vi khuẩn Gram dương, trong đó Staphylococcus aureus thường gặp nhất (38,1%). Tỷ lệ điều trị khỏi 68,5%; 27,4% trẻ phải rút catheter và 4,1% tử vong.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: <em>Staphylococcus aureus</em> là căn nguyên gây VPM thường gặp nhất ở trẻ lọc màng bụng. Đa số đáp ứng điều trị, nhưng viêm phúc mạc vẫn là nguyên nhân dẫn đến rút catheter và tử vong.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nhi khoahttps://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/517TƯƠNG QUAN GIỮA CHIỀU CAO BIẾN DẠNG VÀ CHỈ SỐ HALLER (HI) Ở TRẺ EM MẮC NGỰC LỒI2026-07-21T10:54:14+00:00Chút Nguyễn Hữuchut.viennnhi2@gmail.comSơn Trần Vĩnhtapchinhikhoa@gmail.comChiến Tạ Caotapchinhikhoa@gmail.comGiang Nguyễn Thị Hươngtapchinhikhoa@gmail.com<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Chỉ số Haller (HI) thường được sử dụng như một thước đo hình thái lồng ngực, tuy nhiên phụ thuộc vào chẩn đoán hình ảnh, chi phí đắt và khó áp dụng để theo dõi thường quy trong lâm sàng. Một chỉ số nhân trắc đơn giản như chiều cao của biến dạng lồng ngực có thể là công cụ thay thế hữu ích nếu có mối tương quan mạnh với HI.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá mối tương quan giữa chiều cao biến dạng và chỉ số Haller đồng thời đưa ra các khuyến nghị lâm sàng về ứng dụng trong theo dõi điều trị ngực lồi ở trẻ em.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang trên 89 bệnh nhân ngực lồi vào điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 5/2024 đến tháng 5/2026.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Chiều cao biến dạng tương quan nghịch khá mạnh với HI sau hiệu chỉnh tuổi và giới (partial r = - 0,6). Mô hình hồi quy thu được: HI = 2,533 - 0,747*chiều cao biến dạng + 0,406*tuổi - 0,101*giới với R² = 0,37. Phân tích Bland - Altman cho thấy sai lệch trung bình bằng 0, giới hạn đồng thuận 95% từ - 0,21 đến 0,21.</p> <p><strong>Kết luận và khuyến nghị: </strong>Có thể dùng chỉ số này như một công cụ lâm sàng để sàng lọc hoặc bổ trợ trong đánh giá mức độ biến dạng và theo dõi tiến triển trên lâm sàng.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/518SARCOMA TẾ BÀO TRÒN CÓ BIẾN ĐỔI BCOR: NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP UNG THƯ HIẾM GẶP VÀ ĐỐI CHIẾU Y VĂN2026-07-22T07:21:51+00:00Thạch Hoàng Ngọcbsthachgpb1@gmail.comLan Bùi Ngọctapchinhikhoa@gmail.comQuỳnh Nguyễn Trọngtapchinhikhoa@gmail.com<p>Sarcoma tế bào tròn có biến đổi BCOR (SBCOR) là loại ung thư mới được xếp loại trong phân loại u xương và mô mềm của Tổ chức Y tế Thế giới. U có thể được chẩn đoán dựa trên đặc điêm mô bệnh học u và nhuộm hóa mô miễn dịch với dấu ấn BCOR. Chúng tôi báo cáo một trường hợp u vùng mô mềm và xương vai ở trẻ trai 29 tháng tuổi, chẩn đoán SBCOR dựa vào sinh thiết phát hiện u có mật độ cao tế bào tròn, nhuộm hóa mô miễn dịch u bộc lộ dương tính với dấu ấn BCOR. Trẻ được điều trị hóa chất kết hợp với phẫu thuật cắt u. Quá trình điều trị và theo dõi bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương, phẫu thuật bảo tồn thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Sau khi kết thúc các liệu trình trị, trẻ có toàn trạng tốt. Kết quả hiện nay sau kết thúc điều trị 4 năm không thấy dấu hiện tái phát bệnh, trẻ có thể vận động cánh tay tốt, có thể thực hiện các động tác tinh vi của cẳng tay, bàn tay.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/520HỘI CHỨNG CUSHING Ở TRẺ EM DO BỆNH LÝ NỐT SẮC TỐ THƯỢNG THẬN NGUYÊN PHÁT: BÁO CÁO MỘT CA BỆNH HIẾM GẶP2026-07-22T08:21:46+00:00Lan Nguyễn Hoàngtapchinhikhoa@gmail.comThảo Bùi Phươngtapchinhikhoa@gmail.comNgọc Cấn Thị Bíchtapchinhikhoa@gmail.comNgọc Lê Kimtapchinhikhoa@gmail.comHoàn Vũ Mạnhtapchinhikhoa@gmail.comVăn Nguyễn Anhtapchinhikhoa@gmail.comDũng Vũ Chídungvu@nch.gov.vn<p>Hội chứng Cushing ở trẻ em thường có các biểu hiện lâm sàng đặc trưng, tuy nhiên việc xác định nguyên nhân bệnh vẫn là một thách thức, đặc biệt đối với các thể bệnh hiếm gặp. Bệnh lý nốt sắc tố thượng thận nguyên phát (Primary Pigmented Nodular Adrenocortical Disease – PPNAD) là một nguyên nhân hiếm của hội chứng Cushing không phụ thuộc ACTH, thường gây khó khăn trong chẩn đoán do tổn thương tuyến thượng thận nhỏ và hình ảnh học có thể không đặc hiệu ở giai đoạn sớm. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 7 tuổi có tiền sử tăng cân nhanh, mặt tròn và rậm lông tiến triển trong 3 năm, đã được thăm khám tại nhiều cơ sở y tế nhưng chưa xác định được nguyên nhân. Khi nhập viện tại Bệnh viện Nhi Trung ương, trẻ có biểu hiện hội chứng Cushing điển hình kèm tăng huyết áp nặng khó kiểm soát. Kết quả thăm dò nội tiết xác định tình trạng tăng cortisol không phụ thuộc ACTH; chụp cắt lớp vi tính ổ bụng ghi nhận tổn thương hai tuyến thượng thận gợi ý PPNAD. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ hai tuyến thượng thận, kết quả giải phẫu bệnh xác nhận chẩn đoán PPNAD. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghĩ đến PPNAD ở trẻ mắc hội chứng Cushing không phụ thuộc ACTH nhằm chẩn đoán sớm và hạn chế các biến chứng không hồi phục.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026