https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/issue/feed Tạp chí Nhi khoa 2026-10-14T03:23:03+00:00 Open Journal Systems <div><strong>Tạp chí Nhi khoa Việt Nam</strong> là tạp chí chính thức của Hội Nhi khoa Việt Nam nhằm giới thiệu, cập nhật kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em, xuất bản 4 số/năm. Tạp chí Nhi khoa tiếp nối các số Nhi khoa trước đây. Từ số 1/2008 thay đổi hình thức trình bày, giấy phép xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông số 1752/GP-BTTTT ngày 24-11-2008, mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 - 3860.</div> https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/548 DỊ ỨNG THỨC ĂN KHÔNG QUA TRUNG GIAN IMMUNOGLOBULIN E (IGE) BIỂU HIỆN TIÊU HÓA Ở TRẺ EM: TỪ TỔNG QUAN TÀI LIỆU TỚI THỰC HÀNH LÂM SÀNG 2026-10-14T01:24:12+00:00 Khiêm Nguyễn Văn khiemnv@nch.gov.vn Anh Nguyễn Thị Vân tapchinhikhoa@gmail.com Anh Trần Thị Vân tapchinhikhoa@gmail.com Tùng Cao Việt tapchinhikhoa@gmail.com Hương Lê Thị Minh tapchinhikhoa@gmail.com Ly Phạm Hà tapchinhikhoa@gmail.com <p>Dị ứng thức ăn không qua trung gian Immunoglobulin E (IgE) biểu hiện tiêu hóa ở trẻ em bao gồm một nhóm bệnh lý tiêu hóa có cơ chế dị ứng nhưng không có bằng chứng IgE đặc hiệu, thường gặp nhất là viêm đại tràng dị ứng do protein thức ăn (FPIAP), hội chứng viêm ruột không qua IgE do protein thức ăn (FPIES) và bệnh lý ruột do protein thức ăn (FPE); dị ứng protein sữa bò là tác nhân được ghi nhận phổ biến nhất trong cả ba thể. Tài liệu thu thập từ guideline, đồng thuận và tổng quan cập nhật của các hiệp hội chuyên ngành quốc tế, công bố chủ yếu 2020-2026. Chẩn đoán các bệnh lý này về bản chất là chẩn đoán lâm sàng, dựa trên đáp ứng triệu chứng sau loại trừ thức ăn nghi ngờ và tái phát khi tái thử thách, do hiện chưa có xét nghiệm sinh học đặc hiệu nào được xác nhận đủ tin cậy để ứng dụng thường quy. Bài tổng quan trình bày khái niệm, phân loại, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng theo từng thể bệnh, nguyên tắc tiếp cận chẩn đoán, điều trị và theo dõi, đồng thời hệ thống hóa các sai lầm thường gặp trong thực hành có thể dẫn đến chẩn đoán quá mức hoặc chế độ ăn loại trừ không cần thiết. Cách tiếp cận cân bằng, không bỏ sót các thể có nguy cơ cấp cứu như FPIES, nhưng cũng không quy kết đơn thuần mọi triệu chứng tiêu hóa ở trẻ nhũ nhi cho dị ứng thức ăn là nguyên tắc điều trị cơ bản.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/549 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT HEN PHẾ QUẢN Ở TRẺ TRÊN 5 TUỔI THEO BẢNG KIỂM ACT TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG 2026-10-14T01:40:40+00:00 Thiều Đặng Xuân tapchinhikhoa@gmail.com Chi Lê Quỳnh tapchinhikhoa@gmail.com Hương Nguyễn Thu nguyenthuhuong@nch.gov.vn <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Hen phế quản là bệnh lý hô hấp mạn tính thường gặp, ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt, học tập và đời sống người bệnh. Kiểm soát hen phế quản là một trong hai mục tiêu chính của quản lý hen bên cạnh cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân hen phế quản.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá mức độ kiểm soát hen phế quản ở trẻ trên 5 tuổi theo bảng kiểm ACT (Asthma Control Test) tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2025-2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả tiến cứu, theo dõi dọc trẻ trên 5 tuổi được chẩn đoán hen phế quản và được quản lý tại phòng khám Miễn dịch – Dị ứng – Khớp Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ trẻ nam/nữ là 1,32:1, với độ tuổi trung bình là 9,2 ± 2,4, trong đó nhóm 6–11 tuổi chiếm đa số với 84,9%. Tỉ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt theo ACT sau 1 tháng điều trị dự phòng hen là 47,7%. Sau 3 tháng và 6 tháng tỉ lệ này tăng lên lần lượt là 66,3% và 89,3%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ kiểm soát hen theo ACT cải thiện đáng kể sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng quản lý hen.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/550 ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ VẬN MẠCH VIS Ở TRẺ EM SỐC NHIỄM TRÙNG TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC NỘI KHOA, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG 2026-10-14T02:17:46+00:00 Oanh Phạm Thị Kiều tapchinhikhoa@gmail.com Vân Nguyễn Thị tapchinhikhoa@gmail.com Tho Bùi Thị tapchinhikhoa@gmail.com Cảnh Hoàng Ngọc tapchinhikhoa@gmail.com Dũng Trần Bá tapchinhikhoa@gmail.com Xoay Trần Đăng tapchinhikhoa@gmail.com Hùng Đậu Việt bsdauhung@yahoo.com <p data-pm-slice="1 1 []"><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm chỉ số vận mạch VIS ở trẻ em sốc nhiễm trùng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 119 trẻ chẩn đoán Sốc nhiễm trùng theo Tiêu chuẩn Phoenix tại khoa Điều trị tích cực Nội khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 9/2025 đến tháng 6/2026. Chỉ số vận mạch VIS được tính tại các thời điểm 1 giờ, 6 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, sau đó tìm mối liên quan chỉ số VIS ở các thời điểm với tỷ lệ tử vong.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi của bệnh nhân có trung vị 5,6 tháng (IQR: 2,1-38,8 tháng); nhóm 1-12 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (57,1%). Tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1; 57,1% có bệnh mạn tính kèm theo. Ổ nhiễm khuẩn tiên phát chủ yếu là đường hô hấp (63,9%). Trung vị thời gian thở máy là 6,1 ngày (IQR: 4-13,2 ngày). Tỷ lệ tử vong là 18,5%. Adrenalin là thuốc vận mạch được sử dụng đầu tiên phổ biến nhất (73,1%); 58% bệnh nhân cần phối hợp từ hai thuốc vận mạch trở lên. VIS tăng cao trong giai đoạn hồi sức sớm, đạt đỉnh tại thời điểm 6-12 giờ rồi giảm dần sau 24-48 giờ. Nhóm tử vong có VIS cao hơn nhóm sống tại tất cả các thời điểm. VIS tại 24 giờ, 48 giờ và VIS tối đa trong 48 giờ đầu có liên quan với tử vong (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> VIS tại thời điểm 24 giờ, 48 giờ và VIS tối đa trong 48 giờ đầu cao hơn ở nhóm tử vong, cho thấy VIS có thể là chỉ số giúp hỗ trợ trong đánh giá mức độ nặng và tiên lượng ở trẻ sốc nhiễm trùng.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/551 KẾT QUẢ XỬ TRÍ CẮT CƠN CO GIẬT CẤP Ở TRẺ EM TẠI KHOA CẤP CỨU VÀ CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG 2026-10-14T02:34:54+00:00 An Nguyễn Thị Kim kiman28190@gmail.com Duy Lê Ngọc tapchinhikhoa@gmail.com Quý Trương Văn tapchinhikhoa@gmail.com <p data-pm-slice="1 1 []"><strong>Đặt vấn đề:</strong> Co giật cấp là một trong những cấp cứu thần kinh thường gặp ở trẻ em. Đánh giá hiệu quả xử trí cắt cơn có ý nghĩa quan trọng trong tối ưu hóa điều trị và chuẩn hóa quy trình cấp cứu.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả xử trí cắt cơn co giật cấp ở trẻ em tại Khoa Cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 100 trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi bị co giật cấp được điều trị tại Khoa Cấp cứu và Chống độc từ tháng 9/2025 đến tháng 5/2026. Các đặc điểm lâm sàng, phương pháp điều trị và kết quả cắt cơn được thu thập và phân tích.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi 13–59 tháng chiếm 52,0%; nam chiếm 52,0%. Động kinh là chẩn đoán thường gặp nhất (70,0%). Midazolam đường tĩnh mạch được sử dụng ở 87,0% bệnh nhân. Benzodiazepine kiểm soát cơn ở 78,0% trường hợp, trong đó 62,0% đáp ứng sau liều đầu tiên. Có 22,0% bệnh nhân cần thuốc chống co giật bậc hai; 3,0% cần thuốc bậc ba hoặc gây mê và 2,0% phải đặt nội khí quản. Trẻ ≥ 5 tuổi có nguy cơ không đáp ứng với benzodiazepine cao hơn (OR = 2,90; KTC 95%: 1,09–7,71; p = 0,029).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Trong nghiên cứu này, benzodiazepine kiểm soát cơn co giật cấp ở 78,0% bệnh nhân. Đánh giá sớm đáp ứng và chuyển bậc điều trị kịp thời có thể góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát cơn.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/552 HIỆU QUẢ LIỆU PHÁP HORMON TĂNG TRƯỞNG TÁI TỔ HỢP Ở TRẺ MẮC HỘI CHỨNG PRADER-WILLI TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG 2026-10-14T02:41:25+00:00 Đào Hoàng Anh tapchinhikhoa@gmail.com Thảo Bùi Phương tapchinhikhoa@gmail.com Dũng Vũ Chí dungvu@nch.gov.vn <p data-pm-slice="1 1 []"><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng điều trị và đánh giá kết quả sau điều trị hormon tăng trưởng tái tổ hợp (rhGH) ở trẻ mắc hội chứng Prader-Willi (PWS) tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn 2022-2026.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu một loạt ca bệnh trên 48 trẻ được chẩn đoán hội chứng Prader-Willi và được điều trị hormon tăng trưởng trên 12 tháng từ 1/2022 đến 6/2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong số 48 bệnh nhân nghiên cứu, tỷ lệ trẻ nữ chiếm 56,2%; 95,8% có kiểu gen mất đoạn. Tuổi chẩn đoán và tuổi bắt đầu điều trị trung vị là 11,4 tháng (0–100 tháng), 14,1 tháng (2–100 tháng), thời gian điều trị trung bình là 2,6 ± 1,0 năm và liều GH trung bình là 0,43 mg/m²/ngày. Có 6 bệnh nhân đã ngừng điều trị trong thời gian nghiên cứu. Sau điều trị, Z-score chiều cao cải thiện từ −1,16 ± 1,14 lên −0,38 ± 0,99, với mức tăng trung bình 0,78 ± 1,11 SDS (p = 0,001). Tuổi bắt đầu điều trị GH có mối liên quan độc lập với mức cải thiện Z-score chiều cao sau khi hiệu chỉnh Z-score chiều cao ban đầu, thời gian điều trị và liều GH (β = −0,661; p = 0,001). Z-score BMI tăng từ −0,56 ± 3,00 lên 2,44 ± 2,33, với mức thay đổi trung bình 2,96 ± 2,36 SD (p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Điều trị hormon tăng trưởng ở trẻ PWS tại Bệnh viện Nhi Trung ương giúp cải thiện có ý nghĩa Z-score chiều cao, nhấn mạnh vai trò của việc chẩn đoán và bắt đầu điều trị sớm cho người bệnh. Z-score BMI tăng trong quá trình điều trị, phản ánh đặc điểm tăng trưởng và dinh dưỡng của bệnh nhân cần theo dõi lâu dài và phối hợp đa chuyên khoa.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/553 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÓA SINH VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CORTICOID Ở TRẺ EM MẮC HỘI CHỨNG CUSHING NGOẠI SINH 2026-10-14T02:46:06+00:00 Hưng Đậu Ngọc tapchinhikhoa@gmail.com Giang Đặng Thị Kim tapchinhikhoa@gmail.com Hương Ngô Thị Thu tapchinhikhoa@gmail.com Dũng Vũ Chí dungvu@nch.gov.vn <p data-pm-slice="1 1 []">Hội chứng Cushing ngoại sinh là một rối loạn nội tiết - chuyển hóa thường gặp ở trẻ em, do phơi nhiễm kéo dài với glucocorticoids (GCs).</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> mô tả đặc điểm lâm sàng, hóa sinh và thực trạng sử dụng GCs ở trẻ mắc hội chứng Cushing ngoại sinh.</p> <p><strong>Đối tượng:</strong> 103 trẻ mắc hội chứng Cushing ngoại sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An và Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> mô tả cắt ngang.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> tuổi trung vị: 6,33 tuổi, nam giới 53,4%. Bệnh lý hô hấp và tai mũi họng là lý do thường gặp nhất sử dụng GCs (42%). Đường dùng phổ biến nhất là đường uống (61,2%). Có 37,9% trường hợp tự ý dùng thuốc. Các biểu hiện thường gặp bao gồm: mặt tròn (83,5%), rậm lông (81,6%), thừa cân/béo phì (62,1%). Xét nghiệm sinh hóa: giảm cortisol máu buổi sáng (40,4%), tăng cholesterol (40,4%), tăng triglycerid (25%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hội chứng Cushing ngoại sinh ở trẻ em liên quan đến các thay đổi hình thể đặc trưng và nhiều rối loạn nội tiết, chuyển hóa quan trọng. Tình trạng lạm dụng GCs vẫn còn khá phổ biến, quản lý sử dụng GCs có vai trò quan trọng trong dự phòng, phát hiện sớm các biến chứng nhằm hạn chế những hậu quả lâu dài đối với sức khỏe trẻ em.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/554 THỰC TRẠNG LIPID MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM TỪ 2 - 16 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN MẶT TRỜI 2026-10-14T02:52:37+00:00 Hồng Nguyễn Thanh bsnguyenhong86@gmail.com Nhung Bùi Thị tapchinhikhoa@gmail.com Học Nguyễn Đình tapchinhikhoa@gmail.com Hạnh Phạm Thị tapchinhikhoa@gmail.com <p data-pm-slice="1 1 []"><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tỷ lệ rối loạn lipid máu (RLMM) và phân tích một số yếu tố liên quan ở trẻ em từ 2 đến 16 tuổi tại Bệnh viện Mặt Trời.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 198 trẻ em từ 2-16 tuổi đến khám và theo dõi tại Bệnh viện Mặt Trời trong giai đoạn 2024-2026. Trẻ có bệnh lý mạn tính, suy giáp, hoặc sử dụng thuốc ảnh hưởng đến lipid máu được loại trừ. Dữ liệu thu thập bao gồm đặc điểm nhân trắc (tuổi, giới, chiều cao, cân nặng), tiền sử sơ sinh (cân nặng, tuổi thai), đặc điểm sản khoa của mẹ (cân nặng khi sinh, tăng cân, đái tháo đường thai kỳ), hoạt động thể lực (thời gian vận động trung bình, vận động nhẹ, thời gian ngồi), và kết quả xét nghiệm LDL-C.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ RLMM là 14,6% (29/198). Trẻ có RLMM có độ tuổi trung bình thấp hơn và thời gian ngồi nhiều hơn so với nhóm không RLMM. Phân tích đa biến xác định ba yếu tố liên quan độc lập: tăng cân mẹ (OR = 1,58; 95% CI: 1,22-2,12; p = 0,001) và thời gian vận động (OR = 0,75; 95% CI: 0,57-0,97; p = 0,038) lần lượt là yếu tố liên quan và bảo vệ. Thời gian ngồi (OR = 1,31; 95% CI: 1,001-,71; p = 0,047) có xu hướng làm tăng nguy cơ, mặc dù cận dưới khoảng tin cậy sát ngưỡng 1.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tăng cân của mẹ trong thai kỳ và thời gian ngồi kéo dài ở trẻ có liên quan đến chỉ số RLMM, trong khi hoạt động thể lực vừa phải có tác dụng bảo vệ. Những phát hiện này gợi ý rằng các chiến lược dự phòng RLMM ở trẻ em cần ưu tiên kiểm soát cân nặng thai kỳ, thúc đẩy hoạt động thể lực và giảm thời gian tĩnh tại trong sinh hoạt hàng ngày. Cần thực hiện các nghiên cứu dọc để khẳng định mối quan hệ nhân quả và đánh giá hiệu quả của các can thiệp dự phòng.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/555 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY TRÊN LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY Ở TRẺ EM BẰNG NẮN KÍN VÀ XUYÊN KIM KIRSCHNER QUA DA DƯỚI MÀN TĂNG SÁNG 2026-10-14T02:58:44+00:00 Việt Nguyễn Đức vietnd1@nch.gov.vn Đức Hoàng Hải tapchinhikhoa@gmail.com Tuân Vũ Hồng tapchinhikhoa@gmail.com Anh Lê Tuấn tapchinhikhoa@gmail.com Tùng Tạ Trần tapchinhikhoa@gmail.com Hùng Hoàng Tiến tapchinhikhoa@gmail.com Loan Trần Thị Thanh tapchinhikhoa@gmail.com <p data-pm-slice="1 1 []"><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang và đánh giá kết quả điều trị gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em bằng phương pháp nắn kín và xuyên kim Kirschner qua da dưới màn tăng sáng tại Bệnh viện Nhi Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh có theo dõi dọc trên 58 bệnh nhân được chẩn đoán gãy trên lồi cầu xương cánh tay độ II và III theo Gartland cải biên Wilkins, được điều trị bằng nắn kín và xuyên kim Kirschner qua da dưới màn tăng sáng tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu gồm 58 bệnh nhân, Tuổi trung bình 5,74 ± 2,24 (2 – 9) tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,4/1. Tay trái bị gãy chiếm 69,0%. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn sinh hoạt (89,7%). Toàn bộ bệnh nhân được phẫu thuật trong vòng 1 tuần kể từ khi chấn thương. Về lâm sàng, 100% bệnh nhân có đau, sưng nề và hạn chế gấp duỗi khuỷu; tổn thương thần kinh trước mổ 3,4%, không có tổn thương mạch máu cần can thiệp. Gãy độ II chiếm 79,3%, độ III chiếm 20,7%. Cấu hình 2 kim chéo được sử dụng nhiều nhất (75,9%). Thời gian mổ trung bình 39,55 ± 16,66 phút. Kết quả nắn chỉnh tốt và khá đạt 94,8% theo góc thân-hành xương và 91,4% theo góc Baumann. Tỷ lệ nhiễm khuẩn chân kim 0%, không có di lệch thứ phát; 1 trường hợp (1,7%) tổn thương thần kinh trụ do kỹ thuật, đã phẫu thuật gỡ dính và hồi phục tốt. Sau 6 tháng, đánh giá theo tiêu chuẩn Flynn cho tỷ lệ tốt và khá về kết quả chung đạt 93,1%, không có trường hợp xấu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nắn kín và xuyên kim Kirschner qua da dưới màn tăng sáng là phương pháp an toàn, hiệu quả với vết mổ nhỏ, ít biến chứng và thời gian nằm viện ngắn, phù hợp cho điều trị gãy trên lồi cầu xương cánh tay độ II và III ở trẻ em.</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 https://tcnhikhoa.vn/index.php/tcnk/article/view/556 CƠN HEN NẶNG BỘI NHIỄM TRÊN NỀN BỆNH LÝ HẸP KHÍ QUẢN VÀ MỀM SỤN KHÍ QUẢN Ở TRẺ EM: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG 2026-10-14T03:04:57+00:00 Sương Nguyễn Thị Thu nttsuong@uhsvnu.edu.vn Tuấn Trần Anh tapchinhikhoa@gmail.com Nhi Nguyễn Thị Tuyết tapchinhikhoa@gmail.com Thịnh Lê Quốc tapchinhikhoa@gmail.com Ngọc Trần Bảo tapchinhikhoa@gmail.com Nhi Hồ Trần Bảo tapchinhikhoa@gmail.com Ngọc Trần Thanh tapchinhikhoa@gmail.com <p data-pm-slice="1 1 []">Khò khè tái diễn và suy hô hấp cấp ở trẻ em do bất thường cấu trúc đường thở bẩm sinh là hệ quả của sự suy yếu hoặc khiếm khuyết các vòng sụn nâng đỡ. Vòng sụn khí quản là một cấu trúc hình chữ C, giúp đường dẫn khí mở rộng và ổn định trước biến động của áp suất âm lồng ngực, từ đó ngăn ngừa hiện tượng xẹp đường thở động vào cuối thì thở ra. Sự phát triển toàn vẹn của các cấu trúc này bị ảnh hưởng bởi tình trạng sinh non và các dị tật ống tiêu hóa bẩm sinh (như teo hoặc hẹp thực quản), quyết định đến khả năng duy trì thông khí của trẻ sau sinh. Những rối loạn giải phẫu này không chỉ làm tăng kháng lực đường thở mà còn gây ứ đọng dịch tiết, dẫn đến các cơn hen phế quản nặng và các đợt bội nhiễm phổi tái phát. Nhìn chung, bệnh lý cấu trúc đường thở thường bị che lấp bởi các triệu chứng tương đồng với hen phế quản; sự phối hợp này tạo nên một bệnh cảnh phức tạp, biểu hiện qua cả hai khía cạnh: khò khè kháng trị kéo dài và suy hô hấp nặng diễn tiến từ nền tảng bất thường giải phẫu. Chúng tôi mô tả lâm sàng và kết quả điều trị của ca bệnh có hen phế quản cơn nặng bội nhiễm với tình trạng bệnh lý nền hẹp khí quản và mềm sụn. Trường hợp này nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về các bất thường cấu trúc đường thở ở trẻ đã và đang mắc các bệnh lý hô hấp. Việc nhận biết sớm những khiếm khuyết bẩm sinh này rất quan trọng trong việc cải thiện tình trạng bệnh nhi, tránh điều trị không hiệu quả cũng như lạm dụng corticoid. Trong khi hẹp khí quản làm giảm khẩu kính đường thở cấu định, dẫn đến dễ nhiễm trùng, ứ đọng đàm thì mềm sụn khí quản lại gây xẹp khí quản khi thở ra, từ đó biểu hiện các triệu chứng rất giống hen (khò khè, ứ khí, giảm thông khí).</p> 2026-10-14T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026